Giỗ thường là ngày kỷ niệm người đã khuất theo Âm lịch, thường tính từ năm thứ hai trở đi (sau giỗ đầu). Vào đúng ngày đó, con cháu làm cơm cúng, thắp hương, mời gia tiên về hưởng lễ và sum vầy.
Mâm cúng trên bàn thờ gia tiên. Đồ lễ: hương, hoa, đèn, trầu cau, nước, rượu. Mâm cỗ: cơm, canh, món mặn (thịt, cá, rau) hoặc chay tùy gia đình; trái cây; vàng mã. Số món có thể 4, 6, 8 tùy tập quán. Chuẩn bị trước ngày giỗ để đúng giờ cúng (thường buổi trưa hoặc chiều).
Khi đọc văn cúng, thay [Họ tên], [Địa chỉ], [Ngày tháng năm]… bằng thông tin thực tế của gia đình.
Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần) Kính lạy: Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ tỷ. Thúc bá huynh đệ và Chư vị Linh hồn Gia tiên nội ngoại họ [Họ]. Hôm nay là ngày [Ngày] tháng [Tháng] năm [Năm Âm lịch], nhân ngày giỗ của [Quan hệ và tên người đã khuất, ví dụ: Ông nội Nguyễn Văn A], tín chủ con là [Họ tên] cùng toàn thể gia đình, ngụ tại [Địa chỉ], kính cẩn sắm lễ, hương hoa trà quả, dâng lên trước án, kính mời Chư vị Gia tiên về hưởng lễ. Cúi xin Chư vị giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật. Cúi xin Chư vị phù hộ độ trì cho con cháu: bình an, khỏe mạnh, làm ăn thuận lợi. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám. Nam mô A-di-đà Phật! (3 lần)
Giỗ đầu (đúng một năm sau ngày mất) thường làm long trọng hơn, có thể mời họ hàng. Giỗ thường có thể chỉ gia đình nhỏ. Nên cúng đúng ngày Âm lịch; nếu bận có thể cúng trước một ngày (cúng tiên thường), tránh cúng sau.